You are here: Home Bệnh Huyết Học Suy tuỷ Suy Tủy Là gì ? cách điều trị

Thiết Bị Y Tế Gia Khoa

Suy Tủy Là gì ? cách điều trị

Email In PDF.
Xem kết quả: / 7
Bình thườngTuyệt vời 

1.ĐỊNH NGHĨA
Suy tủy là sự giảm các dòng tế bào máu có thể 1, 2 hoặc cả 3 dòng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu (bao giờ cũng có dòng hồng cầu).

2.CHẨN ĐOÁN
2.1 Chẩn đoán xác định: dựa vào 
2.1.1. Lâm sàng
Thiếu máu dai dẳng
Sốt nhẹ hoặc không sốt
Xuất huyết da niêm mạc
Gan lách hạch không to
2.1.2. Cận lâm sàng
*Huyết đồ 
Hồng cầu giảm, Hb giảm.
Hồng cầu đẳng sắc hình dạng kích thước bình thường.
Hồng cầu lưới giảm < 1%
Bạch cầu trung tính < 2,5 G/l
Tỷ lệ lymphocyte tăng, công thức bạch cầu đảo ngược (N/L < 1)
*Fe++/s tăng
*Tủy đồ 
Số lượng tế bào tủy < 30.000, tủy nghèo tế bào. Dòng Hồng cầuN và bạch cầu hạt giảm nặng, lymphocyte chiếm đa số (> 50% tế bào có nhân trong tủy).
*Sinh thiết tủy
Tủy nghèo tế bào
mỡ tăng
Thâm nhiễm nhiều tế bào lymphocyte, mono và tương bào.
*Xét nghiệm dấu ấn bề mặt tế bào: CD3 , CD4 , CD8 
2.2 Chẩn đoán phân biệt
Bạch cầu cấp thể suy tủy.
Xơ tủy.

3. ĐIỀU TRỊ
3.1.Điều trị nguyên nhân: nếu có thể được.
3.2.Điều trị hỗ trợ
*Truyền máu
Truyền Hồng cầu lắng khi Hb < 70 g/l
Truyền tiểu cầu khi số lượng tiểu cầu < 20 G/l hoặc 20 – 50 G/l kèm xuất huyết trên lâm sàng.
*Kháng sinh: phổ rộng. Sau 10 ngày nếu không hết sốt có thể kèm kháng nấm.
*Vitamin nhóm B, C…
3.3. Điều trị đặc hiệu: thời gian điều trị liên tục 3 – 6 tháng.
3.3.1.Ức chế miễn dịch
* Nếu CD8 tăng hoặc cả CD4 tăng có thể kết hợp 1, 2 hoặc cả 3 thuốc ức chế miễn dịch sau:
-Antithymocic globulin hoặc Anti lymphocytic globulin: 15 - 40mg/kg/ngày TM x 4 – 10 ngày.
-Cyclosporin-A: 3 – 7mg/kg/ngày uống x 6 – 12 tháng
-Corticoid: 1 – 2mg/kg/ngày uống có thể dùng 
+Methylprednison hoặc
+Prednison 
* Nếu CD4 và CD8 bình thường hoặc giảm thì dùng : 
Corticoid: 1 – 2mg/kg/ngày uống.
3.3.2.Androgen
Fluoxymesterone: 20 – 30mg/ngày uống x 6 tháng, hoặc
Durabolin 25 – 50mg/tuần tiêm bắp, hoặc
Testosteron enanthat 200 – 600mg/tuần tiêm bắp.
3.3.3.Yếu tố tăng trưởng tạo máu
GM-CSF (Granulomacrophage - colony stimulating factor) (Leukomax) hay G-CSF (Granulocytic - colony stimulating factor) (Neupogen):3 - 7 mcg/kg/ngày TDD x 6 tháng.
3.3.4.Ghép tủy: khi điều trị ức chế miễn dịch và kích tủy thất bại.

4. ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ
-Hồi phục hoàn toàn khi số lượng tế bào máu như người bình thường mà không cần truyền máu.
-Hồi phục một phần: 
•Hồng cầu lưới tăng ít nhất 0,5%.
•Bạch cầu đa nhân trung tính ít nhất 0,5G/l.
•Tiểu cầu tăng trên 30 G/l.
•Bệnh nhân cần phải được truyền máu.
•Không có dấu hiệu nhiễm trùng trên lâm sàng.
-Không hồi phục: số lượng tế bào máu không thay đổi hoặc tử vong.
-Tái phát: số lượng tế bào máu quay trở lại trạng thái ban đầu.

Nguyên nhân gây suy tủy:
Suy tủy xương có loại bẩm sinh (bệnh Fanconi) nhưng ít gặp. Đây là bệnh di truyền lặn liên quan bất thường đến sắc tố da. Bệnh nhân người thấp, ngón cái bất thường, suy thận. Gần đây, các nhà nghiên cứu đã phát hiện đột biến gene đặc hiệu trong thiếu máu Fanconi nằm trên nhiễm sắc thể số 9. Tế bào tủy và số lượng hồng cầu vẫn bình thường cho đến 5-10 tuổi, sau đó giảm dần. Bệnh nhân thường tử vong ở tuổi 10-20 khi suy tủy ngày càng nặng.
Suy tủy thứ phát có nhiều nguyên nhân:

Do thuốc: Có nhiều loại thuốc gây suy tủy xương, nhưng cloramphenicol là hay gặp nhất. Ngoài ra, một số thuốc khác như thuốc phòng chống sốt rét, thuốc chống ung thư, chống lao, chống động kinh, co giật, thuốc trị đái tháo đường cũng có khả năng gây suy tủy.

Do hóa chất: Vì tiếp xúc lâu dài với các hóa chất như Benzen, thuốc trừ sâu DDT, chì, thạch tín…

Do phóng xạ: Nhiễm xạ liên tục với liều lượng lớn sẽ dẫn đến suy tủy xương.
Do nhiễm trùng: Một số bệnh nhân nhiễm trùng nặng hoặc nhiễm trùng huyết cũng có thể bị suy tủy xương cấp. Bệnh thường rất nặng, có thể gây tử vong trong vài tuần đầu. Bệnh lao, suy thận cũng có thể gây suy tủy thứ phát.

Do nhiễm virus: Virus viêm gan A-B đã bị coi là nguyên nhân gây suy tủy xương. Một số bệnh nhân nhiễm HIV cũng bị suy tủy xương. Ở những người này, tế bào tủy giảm có thể là do virus ngăn chặn tạo máu, hoặc do sử dụng nhiều loại thuốc để kiểm soát sự nhân đôi virus.

Ngoài ra, suy tủy xương còn có thể do viêm khớp, có thai, có tuyến ức to, tuyến giáp to…