You are here: Home Bệnh Tâm Thần Kinh Đau đầu Đau đầu (Phần cuối)

Thiết Bị Y Tế Gia Khoa

Đau đầu (Phần cuối)

Email In PDF.
Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 

Đau đầu (Phần cuối)

Nếu đau nhẹ không ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt hàng ngày, thì người bệnh có thể dùng các loại thuốc giảm đau thông thường. Nếu có vài cơn đau nặng hơn trong một tháng, hay đau không giảm khi dùng thuốc giảm đau, thì bệnh nhân nên điều chỉnh cuộc sống sao cho tránh được các yếu tố khởi phát cơn đau.

Có thể tham khảo vài cách sau :

-          Ði ngủ và thức dậy đúng giờ mỗi ngày.

-          Tập thể dục mỗi ngày, ngay cả khi đang đi du lịch hay khi công việc quá bận. Thể dục có thể giúp giấc ngủ ngon hơn đồng thời làm giảm đau đầu (cả số lượng lẫn cường độ cơn đau). Không nên tăng cường độ tập luyện quá nhanh, nên từ từ, vì gắng sức thể lực có thể làm khởi phát cơn đau nhất là bệnh nhân mập quá khổ.

-          Không nên bỏ bữa ăn cũng như ăn kiêng lâu quá.

-          Hạn chế stress  bằng cách vận động và dùng các phương pháp thư giãn khác.

-          Không uống quá hai cốc cà phê mỗi ngày, để hạn chế caffein.

-          Tránh ánh sáng mạnh, có thể đeo kính râm khi đi nắng nếu như ánh nắng là một yếu tố khởi phát cơn đau.

-          Tránh các thức ăn nguy cơ như đã nêu ở trên bằng cách theo dõi chế độ ăn hàng ngày. Tất nhiên không thực tế khi tránh hết tất cả các loại thức ăn đó (nêu tránh thì lấy gì mà ăn ??), mà cố gắng tránh loại nào biết chắc chắn sẽ gây đau đầu nếu ăn vào.

Các loại thuốc nào để phòng ngừa cơn đau đầu migraine ?

Ðó là những thuốc dùng hàng ngày để giảm số cơn đau và thời gian đau, không phải là thuốc dùng khi đang trong cơn đau đầu. Có các nhóm thuốc sau :

1 .Thuốc ức chế beta:

Khóa các tác dụng của các chất adrenergic (adrenaline) lên thụ thể beta.

Các thuốc này làm chậm nhịp tim, dùng điều trị tăng huyết ápcơn đau thắt ngực, loạn nhịp tim nhanh (đánh trống ngực), điều trị cho bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim. Cơ chế làm giảm đau không rõ, có thể do ức chế sản xuất prostaglandin, serotonin, hay tác dụng trực tiếp lên thành mạch.

Các thuốc ức chế beta thường dùng : propanolol (Inderal), atenolol (Tenormin), metoprolol (Lopressor, Lopressor LA, Toprol XL), nadolol (Corgard), và timolol (Blocadren). Các thuốc này được dung nạp khá tốt, tuy nhiên nó có thể gây khó thở ở bệnh nhân bị hen suyễnviêm phế quản mãn, khí phế thủng. Thuốc cũng nguy hiểm cho bệnh nhân có nhịp tim chậm hoặc bị block tim vì nó có thể làm tim đập chậm hơn. Ngoài ra thuốc còn làm nặng các triệu chứng của suy tim. Các tác dụng phụ khác của thuốc là lơ mơ, tiêu chảy,táo bón, mệt mỏi, giảm sức chịu đựng, mất ngủ, buồn nôn,trầm cảm, mất trí nhớ, ảo giác, bất lực.

2 .Thuốc chống trầm cảm

Cơ chế của thuốc là làm giảm các chất dẫn truyền thần kinh, norepinephrine, serotonin. Các thuốc thường dùng như amitriptyline (Elavin), nortriptyline (Pamelor, Aventyl) ,doxepine (Sinequan), imipramine (Tofranil), protriptyline.

Các tác dụng phụ của thuốc gồm : tăng nhịp tim, mờ mắt, tiểu khó, khô miệng, táo bón, thay đổi cân nặng, và hạ huyết áp tư thế.

Không dùng cùng các thuốc ức chế monoamine oxidase, như isocarboxazid (Marplan), phenelzine (Nardil), tranylcypromine (Parnate), procarbazine (Matulane), có thể gây động kinh và tử vong khi bệnh nhân sốt cao. Dùng thật thận trọng cho bệnh nhân bị động kinh vì nó làm tăng nguy cơ lên cơn động kinh. Bệnh nhân bị phì đại tuyến tiền liệtcũng cần cẩn trọng khi dùng thuốc vì thuốc càng làm cho bệnh nhân tiểu khó. Bệnh nhân bị tăng nhãn áp, thuốc có thể làm cho bệnh nặng hơn. Thuốc còn gây hiệu quả an thần mạnh nếu dùng kết hợp với các chất gây ức chế hoạt động của não khác như cồn, barbiturate, narcotic, nhóm benzodiazepine (như lorazepam - Ativan, diazepam - Valium, temazepam - Restori, oxazepam - Serax, clonazepam - Klonopin, zolpidem - Ambien). Epinerphrine không nên dùng cùng amitriptyline vì nếu kết hợp cả hai thuốc có thể gây cơn tăng huyết áp ác tính.

3 .Thuốc kháng serotonin :

Methysergide (Sansert) chống đau đầu bằng cách gây co mạch và kháng viêm. Methylergonovine là dẫn xuất từ methysergide, có cơ chế tác dụng tương tự. Nhưng nhóm thuốc này ít được dùng vì có nhiều tác dụng phụ. Nghiêm trọng nhất là làm xơ hoá lòng niệu quản khiến tắc nghẽn đường dẫn tiểu gây trào ngược nước tiểu về thận. Trào nguợc nước tiểu làm bệnh nhân đau vùng hông lưng và cuối cùng sẽ dẫn đến suy thận. Methysergide còn làm xơ hoá phổi, gây đau ngực, khó thở, thở nông.

4 .Thuốc ứng chế kênh canxi :

Tác dụng của thuốc là khóa các kênh đưa canxi vào trong tế bào cơ tim và thành mạch, làm giảm sức co cơ tim, làm giảm nhịp tim và hạ huyết áp. Thuốc này dùng để điều trịtăng huyếp ápđau thắt ngực do thiếu máu cơ tim, loạn nhịp tim (rung nhĩ chẳng hạn). Thuốc còn có tác dụng khoá serotonin, một hoá chất có trong sợi thần kinh, vì thế đôi khi có thể dùng để điều trị chứng đau nửa đầu.

Những thuốc thuộc nhóm này có thể kể là : diltiazem (Cardizem, Dilacor, Tiazac), verapamin (Calan, Verelan, Isoptin) và minodipine.

Tác dụng phụ thường gặp là : táo bón, buồn nôn, đau đầu, phù, nổi mẫn ở da, hạ huyết áp, lơ mơ, choáng váng. Dùng diliazem hay verapamine cho bệnh nhân suy tim, các triệu chứng của suy tim có thể nặng hơn vì thuốc làm giảm sức co bóp của cơ tim. Thuốc còn làm chậm sự đào thải và làm tăng nồng độ trong máu của carbamazepine (Tegretol), simvastatin (Zocor), atorvastatin (Lipitor), Iovastatin (Mevacor), nếu dùng đồng thời và có thể làm bệnh nhân bị ngộ độc thuốc.

5 . Thuốc chống động kinh :

Thuốc chống động kinh có thể dùng như phenobarbital, gabapentin, valproic acid. Cơ chế tại sao không rõ.

Những ai nên dùng thuốc để phòng ngừa đau nửa đầu ?

Không phải mọi bệnh nhân đều phải dùng thuốc. Những bệnh nhân mà đáp ứng tốt với thuốc giảm đau thông thường thì không nên phòng bằng các thuốc này. Chỉ những bệnh nhân sau đây đuợc khuyến cáo dùng thuốc :

-          Dùng thuốc trị khi cơn đau hơn hai lần một tuần.

-          Có hơn hai cơn đau mà không đáp ứng với thuốc trong vòng một tháng.

-          Đau đầu ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt hàng ngày.

-          Chống chỉ định với các thuốc trị cơn đau như có bệnh tim, bị đột quỵ, có thai, hay không có khả năng dung nạp thuốc vì tác dụng phụ của nó.

Tác dụng của thuốc ngừa đau đầu là gì ?

Các thuốc này làm giảm số cơn đau cũng như thời gian kéo dài của mỗi cơn, nhưng không có khả năng "tống khứ" cơn đau. Tỉ lệ thành công của các loại thuốc này khoảng 50%, thành công tức là làm giảm hơn một nửa số lần đau đầu. Thuốc nên dùng bắt đầu với liều thấp, sau đó tăng dần liều để tránh bớt tác dụng phụ. Ðôi khi bệnh nhân không thấy đuợc tác dụng của thuốc trong thời gian 2-3 tháng đầu sử dụng vì tác dụng của thuốc là từ từ.

Dùng thuốc điều trị ngừa đau nửa đầu như thế nào là thích hợp ?

Cách dùng thuốc ngừa đau đầu thích hợp nhất :

-          Bác sĩ gia đình nên là người kê toa và hướng dẫn cách sử dụng.

-          Khi quyết định chọn loại thuốc nào cần xem xét các tác dụng phụ của nó và các bệnh liên quan mà bệnh nhân đang có.

-          Propanolol nên được dùng đầu tiên để phòng ngừa đau đầu, nhưng có thể gây ra cơn hen suyễn cho bệnh nhân, khi bệnh nhân lần đầu dùng thuốc.

-          Amitriptyline là thuốc thường dùng nhất.

-          Dùng từ liều thấp đến cao, tăng liều từ từ nếu cần thiết. Cách này làm hạn chế các tác dụng phụ của thuốc. Khi dùng thuốc thường xuyên trong thời gian dài, nếu cần ngưng thuốc cũng không nên ngưng đột ngột mà phải từ từ. Vì nếu ngưng thuốc đột ngột có thể làm tái phát cơn đau đầu.

-          Nếu cần có thể dùng hơn một thuốc. Ngược lại có thể không cần dùng thuốc mà áp dụng cách thực hiện hành vi sức khoẻ đúng.

Ðiều trị đau đầu từng cơn như thế nào ?

Giống như chứng đau nửa đầu có hai cách để điều trị: bệnh nhân bị đau đầu từng cơn, đó là dùng thuốc để cắt đứt cơn đau đầu và cách thứ hai là dùng thuốc ngăn ngừa cơn đau đầu xảy ra. Thuốc cắt đứt cơn đau có khả năng làm ngưng cơn đau khi nó đang diễn ra, còn thuốc ngăn ngừa cơn đau thì có thể làm giảm số lượng cũng như thời gian đau.

Ðiều trị cắt đứt cơn đau có thể bằng cách cho bệnh nhân thở oxy 100% 8 -10 lít / phút bằng mặt nạ không thở lại trong thời gian từ 10 - 15 phút song song đó là cho bệnh nhân dùng Triptan (có thể là Sumatriptan, dùng qua xông mũi, tiêm dưới da hay tiêm bắp) hay Ergot (như DHE chẳng hạn, dùng tiêm tĩnh mạch, tiêm dưới da, tiêm bắp).

Thuốc ức chế kênh canxi, verapamil (như Calan, Veralan, Isoptin) cũng là những thuốc được lựa chọn để ngăn ngừa cơn đau đầu. Một số loại khác như valproate, ergotamine, lithium, methysergide. Verapamil đôi khi cũng có thể dùng kết hợp với các thuốc ngừa đau đầu khác. Nên dùng thuốc các thuốc ngừa đau đầu sớm trước mỗi đợt đau đầu, và kéo dài hơn hai tuần khi đau đầu đã hết. Sau đó nên giảm liều từ từ. Có thể dùng prednisone với liều giảm dần trong 1 -2 tuần đầu điều trị, vì lúc này các thuốc ngừa đau đầu chưa có tác dụng. Phải sau hai tuần dùng thì các thuốc trên mới có tác dụng, trong khi đó prednisone lại có khả năng cải thiện đau đầu hiệu quả.

Ðiều trị đau nửa đầu do kinh nguyệt như thế nào ?

1.   Nên dùng thuốc sau khi đau đầu khởi phát. Thường thì các thuốc cắt cơn đau đầu thông thường cũng có khả năng chấm dứt cơn đau đầu do kinh nguyệt.

2.   Ðể ngăn ngừa cơn đau đầu kinh nguyệt, nên dùng thuốc ngay trước khi cơn đau đầu xảy ra và kéo dài cho đến khi hết đợt. Có thể dùng estrogen để phòng đau đầu.

3.   Ðể giảm số lần cũng như thời gian kéo dài cơn đau, có thể dùng các thuốc ngăn ngừa đau đầu như thuốc ức chế beta, thuốc ức chế kênh canxi, thuốc chống, thuốc chống động kinh, thuốc chống trầm cảm.

Nhóm thuốc NSAIDs như naproxen sodium (Aleve) hay ibuprofen (Avid, Motrin) khá hiệu quả trong việc cắt đứt cơn đau đầu kinh nguyệt. Kết hợp các thuốc giảm đau chứa acetaminophen, aspirin và caffein cũng khá tốt. Nếu đoán trước được cơn đau đầu, có thể dùng NSAIDs khoảng 24 trước khi cơn đau khởi phát và kéo dài cho đến khi nó chấm dứt. Vì cơ chế của NSAIDs là ức chế prostaglandin nên thuốc cũng có khả năng làm giảm đau bụng kinh.

Nhóm triptan (naratriptan, rizatriptan, sumatriptan, zolmitriptan) cũng hiệu quả trong điều trị chứng đau đầu này, đồng thời chống buồn nôn và nôn. Ðể giảm tần số và cường độ đau, dùng sumatriptan 2 -3 ngày trước khi đau và kéo dài cho đến hết đợt. Dùng naratriptan cũng tương tự.        

Dihydroergotamine (DHE) dùng dạng xịt hay tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch đều có thể để cắt đứt cơn đau. Ergotamine (dạng uống, đặt hậu môn, hay dạng xịt mũi), DHE (dạng xịt, tiêm bắp, tiêm mạch) có thể dùng trong khi đang hành kinh (trước và sau kỳ kinh vài ngày).

Nếu các thuốc trên không hiệu quả, bác sĩ nên cho bệnh nhân dùng các thuốc ngăn ngừa cơn đau hàng ngày như thuốc ức chế beta, thuốc chống động kinh, thuốc điều trị trầm cảm. Việc lựa chọn thuốc cần căn cứ vào kinh nghiệm của thầy thuốc, vào các tác dụng phụ của thuốc và bệnh căn bản mà bệnh nhân đang có.

Nếu đã dùng các thuốc trên mà vẫn không hiệu quả, thử tăng liều thuốc nhất là khi đang hành kinh. Ðôi khi có thể dùng thử estrogen cho bệnh nhân vì nồng độ estrogen trong máu hạ xuống vào giai đoạn này của chu kỳ kinh nguyệt là một yếu tố khởi phát cơn đau. Trên một số bệnh nhân, estradiol dán ngoài da như TTS50, TTS100, tỏ ra khá hiệu quả nếu dùng trước khi đau đầu 2 ngày và kéo dài trong khoảng 1 tuần. Liều lượng cần theo dõi cận thận vì nếu liều quá cao cũng gây đau đầu nhất là những bệnh nhân dễ mẫn cảm.

Trên những phụ nữ không thể khống chế được đau đầu bằng các loại thuốc trên, có thể dùng thử thuốc ngừa thai uống liều thấp để ổn định nồng độ estrogen.

Ngoài ra, còn có vài loại thuốc khác như tamoxifen, bromocriptine, danazol, hormone kích thích tiết các gonadotropine